Mỗi lọ nhựa 10 ml chứa: Thành phần hoạt chất: Milrinon 10 mg Thành phần tá dược: Acid lactic, dextrose khan, nước cất pha tiêm
Quy cách đóng gói
Hộp 10 ống nhựa x 10ml
Mã sản phẩm
J00529
Hướng dẫn sử dụng
Thành phần
Mỗi lọ nhựa 10 ml chứa: Thành phần hoạt chất: Milrinon 10 mg Thành phần tá dược: Acid lactic, dextrose khan, nước cất pha tiêm
Công dụng
Nhóm tác dụng dược lý: Nhóm thuốc điều trị tim mạch, ức chế phosphodiesterase Mã ATC: C01CE02 Milrinon là một chất tăng co cơ và giãn mạch, với tác dụng tăng nhịp nhẹ. Bên cạnh đó, milrinon cũng giúp cải thiện tình trạng suy tim tâm trương thất trái. Milrinon có sự khác biệt về cấu trúc và cơ chế tác dụng so với glycosid tim, catecholamin hay các chất ức chế men chuyển angiotensin. Bên cạnh đó, milrinon cũng là một chất ức chế chọn lọc isoenzym III phosphodiesterase III trong cơ tim mạch. Milrinon gẫy tăng nhẹ dẫn truyền nút nhĩ thất nhưng không có tác động về điện sinh lý đáng kể nào. Trong các nghiên cứu lâm sàng milrinon cho thấy sự cải thiện nhanh chóng các chỉ số huyết động học của bệnh suy tim sung huyết bao gồm cung lượng tim, huyết áp mao mạch phổi và sức kháng mạch máu, không có ảnh hưởng đáng kể nào lên nhịp tim hay mức tiêu thụ oxy của cơ tim. Sự cái thiện huyết động học khi sử dụng milrinon tiêm tĩnh mạch cùng với sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng trong suy tim sung huyết được đo bằng sự thay đổi mức phân loại theo Hiệp hội Tim mạch New York. Đối tượng trẻ em: Các tài liệu tổng quan được xây dựng từ các nghiên cứu lâm sàng trên những bệnh nhân được điều trị hội chứng cung lượng tim thấp sau phẫu thuật tim, sốc nhiễm khuẩn hoặc huyết áp tại phổi cao. Liều dùng bình thường là liều dung nạp từ 50-75ug/kg trong 30-60 phút sau đó truyền tĩnh mạch từ 0,25-0,75 ug/kg/phút trong thời gian lên đến 35 giờ. Trong những nghiên cứu này, milrinon được chứng minh là giúp làm tăng cung lượng tim, giảm áp lực đổ đầy tím, giảm sức đề kháng mạch máu phổi và hệ thống với sự thay đổi tối thiểu trên nhịp tim và mức tiêu thụ oxy của cơ tim. Một số nghiên cứu đã mở rộng việc sử dụng milrinon ở trẻ em bị sốc nhiễm khuẩn huyết giảm tiết, tác dụng của milrinon lên tăng áp ngoài phổi sau hồi phục từ căn bệnh tứ chứng Fallot, hiệu quả kết hợp giữa nitric oxid và milrinon với tuần hoàn phổi sau phẫu thuật Fontan. Kết quả của những nghiên cứu này không mang tính kết luận. Do đó, việc sử dụng milrinon trong những chỉ định này không được khuyến cáo.
Chỉ định
– Người lớn: Chỉ định Suy tim sung huyết, suy tim cấp tính không đáp ứng với thuốc khác Sử dụng sau phẫu thuật tim. Điều trị giảm triệu chứng ở những người bệnh suy tim giai đoạn cuối không thể ghép tim. – Trẻ em: Điều trị ngắn hạn (tối đa 35 giờ) suy tim sung huyết nghiêm trọng không đáp ứng với điều trị thông thường
Liều dùng
Chỉ định với người trưởng thành: – Suy tim với phân suất tổng máu giảm: Khởi đầu: 0,125mcg/kg/phút, khoảng định lượng: 0,125 đến 0,75 mcg/kg/phút – Cầu nối ghép tim (Offlabel) Truyền IV trực tiếp: Ban đầu: 0,125mcg/kg/phút khoảng liều dùng 0,1 đến 0,75 mcg/kg/phút – Hỗ trợ inotropoic sau phẫu thuật ở người nhận ghép tim (offlabel) Truyền IV liên tục: phạm vi liều thông thường 0.375 đến 0,75 mcg/kg/phút – Liều dùng điều trị ở trẻ em: Điều trị suy tim cấp, sốc nhiễm khuẩn, giảm cung lượng tim sau phẫu thuật – Liều ban đầu: 50 – 75 microgram/kg truyền tĩnh mạch chậm trong khoảng thời gian 30 – 60 phút. Giảm liều nếu thấy nguy cơ hạ huyết áp. – Liều duy trì: Truyền tĩnh mạch liên tục 30 – 45 microgam/kg/giờ, thời gian điều trị 2 – 3 ngày (thường sử dụng 12 giờ đối với người bệnh sau phẫu thuật tim). – Liều dùng ở người bệnh suy thận: Người bệnh suy thận cần được giảm liều milrinon truyền tĩnh mạch tùy theo độ thanh thải creatinin. Hiệu chỉnh liều ở người bệnh có Clcr ≤ 50 ml/phút Sử dụng: Truyền tĩnh mạch thường pha oãng với NaCl 0,45% hoặc 0.9% hoặc Dextrose 5% nồng độ 200mcg/10ml
Cách dùng
– Người lớn: Chỉ định Suy tim sung huyết, suy tim cấp tính không đáp ứng với thuốc khác Sử dụng sau phẫu thuật tim. Điều trị giảm triệu chứng ở những người bệnh suy tim giai đoạn cuối không thể ghép tim. – Trẻ em: Điều trị ngắn hạn (tối đa 35 giờ) suy tim sung huyết nghiêm trọng không đáp ứng với điều trị thông thường
Chống chỉ định
– Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc – Hạ kali huyết nặng
Thận trọng
Việc sử dụng các thuốc kích thích như milrinon trong giai đoạn cấp của nhồi máu cơ tim có thể dẫn đến sự tăng mức tiêu thụ oxy cơ tim không mong muốn. Milrinone-BFS không được khuyến cáo sử dụng ngay sau nhồi máu cơ tim cấp tính cho đến khi an toàn và hiệu quả được thiết lập trong trường hợp này. Cần theo dõi cẩn thận trong suốt quá trình điều trị bằng milrinon bao gồm: Huyết áp, nhịp tim, tình trạng lâm sàng, điện tim, cân bằng chất lỏng, điện giải và chức năng thận (creatinin huyết thanh). Ở bệnh nhân bị tắc nghẽn động mạch chủ hoặc động mạch phổi trầm trọng hoặc hẹp dưới van động mạch chủ phì đại, không nên sử dụng milrinon để giảm tắc nghẽn. Trong những trường hợp này sử dụng các thuốc gây co thắt/giãn mạch có thể làm trầm trọng hơn sự tắc nghẽn lưu thông máu. Loạn nhịp thất và rung tâm thất đã được quan sát thấy ở các đối tượng có nguy cơ cao được điều trị bằng milrinon. Ở một số bệnh nhân, sự gia tăng ngoại thu thất bao gồm nhịp thất nhanh không liên tục được quan sát thấy không ảnh hưởng đến an toàn và hiệu quả điều trị của bệnh nhân. Nguy cơ loạn nhịp tim, biểu hiện trong suy tim có thể tăng lên do nhiều loại thuốc hoặc sự kết hợp của nhiều thuốc. Bệnh nhân sử dụng milrinon cần được theo dõi chặt chẽ trong khi truyền và sau khi ngưng truyền nếu có sự trầm trọng hơn của triệu chứng loạn nhịp tim. Do milrinon giúp cải thiện sự dẫn truyền nút nhĩ thất, có thể làm tăng tần suất đáp ứng tâm thất ở bệnh nhân rung nhĩ hoặc cuồng động tâm nhĩ không kiểm soát. Cần xem xét các chỉ số xét nghiệm khi phối hợp điều trị với các thuốc kéo dài thời gian dẫn truyền nhĩ thất trước khi bắt đầu điều trị với milrinon và ngừng điều trị nếu xảy ra hiện tượng loạn nhịp. Milrinon có thể gây hạ huyết áp do tác dụng giãn mạch, do đó, cần thận trọng khi sử dụng milrinon trên những bệnh nhân bị hạ huyết áp trước đó. Tốc độ truyền nên giảm hoặc dừng lại khi huyết áp bệnh nhân giảm mạnh. Nếu thuốc lợi tiểu mạnh trước đây được xem là nguyên nhân giảm đáng kể áp lực làm đầy tim, milrinon cần được sử dụng thận trọng và theo dõi đồng thời huyết áp, nhịp tim và các triệu chứng lâm sàng. Cải thiện cung lượng tim kèm với sự tăng bài tiết có thể dẫn đến cần giảm liều của thuốc lợi tiểu. Mất kali quá mức do tác dụng lợi tiểu có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim. Do đó, hạ kali máu nên được phòng ngừa bằng cách bổ sung kali trước hoặc trong khi sử dung milrinon. Giảm hemoglobin bao gồm thiếu máu thường xảy ra trong suy tim. Do nguy cơ giảm tiểu cầu hoặc gây thiếu máu, cần theo dõi cẩn thận các kết quả xét nghiệm trên các bệnh nhẫn có số lượng tiểu cầu hoặc hemoglobin giảm. Các trường hợp có phản ứng tại chỗ truyền đã được báo cáo trong phần tác dụng không mong muốn. Do đó, cần phải duy trì giám sát cẩn thận vị trí truyền dịch để tránh sự thoát mạch. Sử dụng ở người cao tuổi: Không có khuyến cáo đặc biệt trên đối tượng người cao tuổi. Không có tác dụng liên quan của tuổi tác tới tần suất tác dụng phụ. Nghiên cứu dược động học đối chứng đã không cho thấy những thay đổi trong dược động học của milrinon trên người cao tuổi. Trên bệnh nhân suy thận: Cần phải điều chỉnh liều lượng Trẻ em: Những khuyến cáo sau cần được xem xét ngoài các thận trọng khi sử dụng thuốc trên người lớn. Ở trẻ sơ sinh, sau phẫu thuật tim mở trong quá trình điều trị bằng milrinon, nên theo dõi nhịp tim, huyết áp động mạch toàn thân thông qua catheter động mạch rốn hoặc động mạch ngoại vi, áp lực tĩnh mạch trung tâm, chỉ số tim, cung lượng tim, sức cản của mạch máu toàn thân, áp lực động mạch phổi và áp lực tâm nhĩ. Các kết quả xét nghiệm cần được quan tâm gồm số lượng tiểu cầu, kali huyết, chức năng gan và chức năng thận. Tần suất đánh giá được xác định bằng các giá trị nền và cần đánh giá các phản ứng của trẻ sơ sinh đối với những thay đổi trong quá trình điều trị. Tổng quan cho thấy bệnh nhân nhi có chức năng thận suy giảm có biểu hiện của suy giảm độ thanh thải milrinon và các tác dụng phụ đáng kể về mặt lâm sàng nhưng độ thanh thải creatinin cụ thể ở liều sử dụng vẫn chưa rõ ràng, do đó việc sử dụng milrinon không được khuyến cáo sử dụng cho các đối tượng này. Ở bệnh trẻ em, milrinon chỉ nên bắt đầu sử dụng khi huyết động học ổn định Cần lưu ý trẻ sơ sinh có các yếu tố nguy cơ xuất huyết trong thất (trẻ sinh non, trẻ nhẹ cân), vì milrinon gây giảm tiểu cầu. Trong các nghiên cứu lâm sàng ở trẻ em, nguy cơ giảm tiểu cầu tăng đáng kể trong thời gian truyền. Dữ liệu lâm sàng cho thấy giảm tiểu cầu có liên quan đến milrinon thường thấy ở trẻ em hơn ở người lớn. Trong các nghiên cứu lâm sàng, milrinon có thể làm chậm sự đóng của ống động mạch ở trẻ em. Vì vậy, nếu sử dụng milrinon là cần thiết trên trẻ sinh non hoặc trẻ sinh đủ tháng có nguy cơ với ống động mạch, cần cân nhắc lợi ích sử dụng thuốc so với nguy cơ. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú Sử dụng trên phụ nữ mang thai: Chỉ nên sử dụng thuốc trong thời kỳ mang thai nếu lợi ích lớn hơn nguy cơ của thuốc Sử dụng trên phụ nữ cho con bú: Không có đủ thông tin về việc bài tiết milrinon trong sữa mẹ. Cần cân nhắc ngừng cho con bú hay ngừng dùng thuốc khi sử dụng thuốc trên phụ nữ có thai. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe, vận hành máy móc Thuốc có tác dụng gây nhức đầu, ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Quá liều
Dùng quá liều tiêm tĩnh mạch có thể gây hạ huyết áp (do tác dụng giãn mạch của thuốc) và loạn nhịp tim. Nếu hiện tượng này xảy ra, cần giảm liều hoặc tạm ngừng sử dụng thuốc cho đến khi tình trạng bệnh nhân ổn định. Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Tuy nhiên cần sử dụng các biện pháp chung để hỗ trợ tuần hoàn.
Dược động học
Sau khi tiêm tĩnh mạch tử 12,5-125 mcg/kg cho bệnh nhân suy tim sung huyết, milrinon có thể tích phân bố là 0,381/kg/giờ, thời gian bán thải là 2,3 giờ, độ thanh thải là 0,13 I/kg/giờ. Sau khi truyền tĩnh mạch từ 0,2-0,7 mcg/kg/phút đối với bệnh nhân suy tim sung huyết, thuốc có thể tích phân bố khoảng 0,45 I/kg, thời gian bán thải trung bình là 2,4 giờ và độ thanh thải là 0,14l/kg/giờ. Các thông số dược động học này không phụ thuộc vào liều và diện tích dưới đường cong phụ thuộc đáng kể vào liều. Đường thải trừ chính của milrinon là qua nước tiểu. Sự thải trừ ở người bình thường qua nước tiểu rất nhanh, khoảng 60% tìm thấy sau 02 giờ đầu sau khi dùng và khoảng 90% sau 8 giờ đầu sau khi dùng. Độ thanh thải ở thận của milrinon trung bình xấp xỉ 0,3 / phút với cơ chế bài tiết chủ động. Trẻ em: Milrinon được thải trừ ở trẻ em nhanh hơn so với người lớn, nhưng trẻ sơ sinh có độ thanh thải thấp hơn đáng kể so với trẻ em và trẻ sinh thiếu tháng có độ thanh thải thấp hơn. Do sự thải trừ nhanh hơn so với người lớn, nồng độ milrinon huyết tương ở trẻ thấp hơn so với người lớn. Ở trẻ em có chức năng thận bình thường, nồng độ milrinon huyết tương sau 6-12 giờ, truyền từ 0,5-0,75 mcg/kg/ phút là khoảng 100-300 ng/ml. Sau khi tiêm tĩnh mạch 0,5-0,75 mcg/kg/phút cho trẻ mới sinh, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ sau phẫu thuật tim mở, milrinon có thể tích phân bố từ 0,35-0,9 l/kg và không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm tuổi. Sau khi truyền tĩnh mạch 0,5 mcg/kg/phút cho trẻ sơ sinh sinh non để tránh luống máu toàn thân thấp sau sinh, milrinon có thể tích phân bố khoảng 0,5 I/kg. Một số nghiên cứu về dược động học cho thấy ở trẻ em, độ thanh thải tăng khi tuổi càng tăng. Trẻ sơ sinh có độ thanh thải thấp hơn đáng kể so với trẻ em (3,43,8 mg/kg/phút so với 5,9-6,7ml/kg/phút). Ở trẻ mới sinh, độ thanh thải milrinon khoảng 1,64 ml/kg/ phút và trẻ sinh non khoảng 0,64 ml/kg/phút. Milrinon có thời gian bán thải khoảng 2-4 giờ ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và 10 giờ ở trẻ sinh non. Kết luận về liều tối ưu milrinon ở trẻ em để đạt được nồng độ huyết tương trên ngưỡng điều trị là cao hơn so với người lớn, nhưng liều tối ưu ở trẻ sinh non để đạt được nồng độ huyết tương trên ngướng điều trị là thấp hơn so với trẻ em. Còn ống động mạch: Milrinon được thải trừ bằng cách bài tiết qua thận và có phân bố chủ yếu ngoài tế bào cho thấy sự quá tải về chất lỏng và sự thay đổi huyết động liên quan đến sự còn ống động mạch có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và bài tiết của milrinon. Ôm cách đóng nói.