Mỗi 1 ml dung dịch có chứa: Thành phần hoạt chất: 100 mg levetiracetam. Thành phần tá dược: Sucralose, amonium glycyrrhizinat, glycerin, sorbitol, acid citric monohydrat, natri citrat, natri…
Mỗi 1 ml dung dịch có chứa: Thành phần hoạt chất: 100 mg levetiracetam. Thành phần tá dược: Sucralose, amonium glycyrrhizinat, glycerin, sorbitol, acid citric monohydrat, natri citrat, natri benzoat, kali sorbat, hương tự nhiên, nước tinh khiết vừa đủ.
Quy cách đóng gói
Hộp 1 lọ x 100ml
Mã sản phẩm
J00597
Hướng dẫn sử dụng
Thành phần
Mỗi 1 ml dung dịch có chứa: Thành phần hoạt chất: 100 mg levetiracetam. Thành phần tá dược: Sucralose, amonium glycyrrhizinat, glycerin, sorbitol, acid citric monohydrat, natri citrat, natri benzoat, kali sorbat, hương tự nhiên, nước tinh khiết vừa đủ.
Công dụng
Nhóm điều trị: Thuốc chống động kinh, thuốc chống động kinh khác. Mã ATC: N03AX14. Hoạt chất levetiracetam là một dẫn chất của pyrrolidon (S-enantiomer của a-ethyl-2-oxo–pirolidin acetamid), không có liên quan về mặt hóa học với các hoạt chất chống động kinh khác. Cơ chế tác dụng: Cơ chế tác dụng của levetiracetam vẫn cần phải được chứng minh một cách đầy đủ. Các thí nghiệm in vitro và in vivo cho thấy levetiracetam không làm thay đổi các đặc tính của các tế bào nền và sự dẫn truyền thần kinh thông thường. Các nghiên cứu in vitro cho thấy levetiracetam ảnh hưởng đến nồng độ Ca2+ trong thần kinh bằng cách ức chế một phần kênh Ca2+ typ N và bằng cách giảm sự giải phóng Ca2+ từ các khu dự trữ trong thần kinh. Ngoài ra, levetiracetam cũng ức chế làm giảm kênh CABA và kênh đóng mở theo glycin bởi kẽm và B-carbolin. Hơn nữa, trong các nghiên cứu in vitro, levetirace- tam có liên kết với một vị trí cụ thể trong mô não của động vật gặm nhấm. Vị trí gắn kết này là protein 2A vận hành ở synap được xem là có liên quan đến sự hình thành mạch máu và sự Ian truyền của các chất dẫn truyền thần kinh. Levetiracetam và các chất đồng đằng tương tự đã đưa ra một dải có ái lực khác nhau với protein 2A vận hành ở synap tương quan với khả năng chống động kinh của chúng trong mô hình nghiên cứu chứng động kinh ở chuột. Phát hiện này cho thấy sự tương tác giữa levetiracetam với protein 2A vận hành ở synap có thể góp phần vào cơ chế chống động kinh của thuốc. Tác dụng dược lực học: Levetiracetam tạo nên sự bảo vệ trong cơn động kinh ở hàng loạt các mô hình nghiên cứu các cơn động kinh toàn thể nguyên phát và cục bộ mà không có tác dụng gây co giật. Chất chuyển hóa ban đầu không có hoạt tính. Ở nam giới, levetiracetam có tác dụng trong cả tình trạng động kinh toàn thể và cục bộ (sự phóng điện dạng động kinh/đáp ứng photoparoxysmal).
Chỉ định
Dokitam được chỉ định như một liệu pháp đơn liều trong điều trị cơn động kinh khởi phát cục bộ kèm theo hoặc không kèm theo xuất hiện cơn động kinh toàn thể hoá thứ phát ở người lớn và thanh niên từ 16 tuổi mới được chẩn đoán động kinh. Dokitam được chỉ định như liệu pháp hỗ trợ trong – Điều trị cơn động kinh khởi phát cục bộ kèm theo hoặc không kèm cơn toàn thể hoá thứ phát ở người lớn, trẻ em và trẻ sơ sinh từ 7 tháng tuổi trở lên mắc chứng động kinh. – Điều trị cơn động kinh co giật ở người lớn và thanh niên từ 12 tuổi trở lên mắc chứng động kinh. – Điều trị cơn động kinh co cứng-co giật toàn thể nguyên phát ở người lớn và thanh niên mắc chứng động kinh toàn thể hoá tự phát.
Liều dùng
Liệu pháp đơn liều cho người lớn và thanh niên từ 16 tuổi trở lên: Liều khởi đầu được khuyến cáo là 2,5 ml x 2 lần/ngày (tương ứng 250mg x 2 lần/ngày) và nên tăng liều lên 5,0 ml x 2 lần/ngày sau hai tuần (tương ứng 500 mg x 2 lần/ngày). Liều có thể tăng lên 5,0 ml x 2 lần/ngày (tương ứng 500 mg x 2 lần/ ngày) tùy theo đáp ứng lâm sàng. Liều tối đa là 15,0 ml x 2 lần/ngày. Điều trị bổ sung cho người lớn (218 tuổi) và thanh niên (12 đến 17 tuổi) cân nặng từ 50 kg trở lên: Liều điều trị ban đầu là 5,0 ml x 2 lần/ngày (tương ứng 500 mg x 2 lần/ngày). Liều này có thể sử dụng vào ngày điều trị đầu tiên. Tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp liều hàng ngày, có thể tăng liều lên 15,0 ml x 2 lần/ngày (tương ứng 1500 mg x 2 lần/ngày). Điều chỉnh liều có thể tăng hoặc giảm 2,5 ml – 5 ml/lần x 2 lần/ngày (tương ứng 250 mg – 500 mg/lần x 2 lần/ngày) mỗi 2-4 tuần. Đối tượng đặc biệt: Tham khảo thêm tờ HDSD
Cách dùng
Dokitam được chỉ định như một liệu pháp đơn liều trong điều trị cơn động kinh khởi phát cục bộ kèm theo hoặc không kèm theo xuất hiện cơn động kinh toàn thể hoá thứ phát ở người lớn và thanh niên từ 16 tuổi mới được chẩn đoán động kinh. Dokitam được chỉ định như liệu pháp hỗ trợ trong – Điều trị cơn động kinh khởi phát cục bộ kèm theo hoặc không kèm cơn toàn thể hoá thứ phát ở người lớn, trẻ em và trẻ sơ sinh từ 7 tháng tuổi trở lên mắc chứng động kinh. – Điều trị cơn động kinh co giật ở người lớn và thanh niên từ 12 tuổi trở lên mắc chứng động kinh. – Điều trị cơn động kinh co cứng-co giật toàn thể nguyên phát ở người lớn và thanh niên mắc chứng động kinh toàn thể hoá tự phát.
Chống chỉ định
Mẫn cảm với levetiracetam hoặc dẫn xuất pyrrolidon hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc.
Thận trọng
Suy thận: Việc sử dụng levetiracetam cho bệnh nhân suy thận cần điều chỉnh liều. Ở những bệnh nhân suy thận nặng, cần đánh giá chức năng thận trước khi lựa chọn liều. Tổn thương thận cấp tính: Việc sử dụng levetiracetam rất hiếm khi liên quan tới tồn thương thận cấp tính trong thời gian điều trị từ vài ngày đến vài tháng. Số lượng tế bào máu: Các trường hợp hiếm làm giảm số lượng tế bào máu (giảm bạch cầu trung tính, mất hạt bạch cầu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu) được cho là có liên quan đến việc sử dụng levetiracetam, thường là khi bắt đầu điều trị. Cần kiểm soát số lượng tế bào máu ở bệnh nhân thể trạng yếu, sốt, nhiễm trùng tái phát hay rối loạn đông máu. Tự tử: Tự tử, cố ý tự tử hay có suy nghĩ tự tử đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị thuốc chống động kinh bao gồm cả levetiracetam. Phân tích meta của các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên với các sản phẩm thuốc chống động kinh gây tăng nguy cơ có suy nghĩ và hành vi tự tử. Cơ chế chưa được biết đến. Vì vậy, bệnh nhân nên được theo dõi các dấu hiệu trầm cảm và/hoặc ý định, hành vị tự tử. Bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân nên được tư vấn khi xuất hiện các dấu hiệu trầm cảm và/hoặc ý định, hành vi tự tử. Hành vi bất thường và hung hăng: Levetiracetam có thể gây ra các triệu chứng loạn thần và bất thường về hành vi bao gồm cáu kỉnh và hung hăng. Bệnh nhân được điều trị bằng levetiracetam cần được theo dõi các dấu hiệu tâm thần cho thấy tâm trạng và/hoặc thay đổi tính cách quan trọng. Nếu những hành vi như vậy được ghi nhận, nên xem xét việc điều chỉnh điều trị hoặc ngừng thuốc dần dán. Hành vi bất thường và hung hăng: Levetiracetam có thể gây ra các triệu chứng loạn thần và bất thường về hành vi bao gồm cáu kỉnh và hung hăng. Bệnh nhân được điều trị bằng levetiracetam cần được theo dõi các dấu hiệu tâm thần cho thấy tâm trạng và/hoặc thay đổi tính cách quan trọng. Nếu những hành vi như vậy được ghi nhận, nên xem xét việc điều chỉnh điều trị hoặc ngừng thuốc dần dán. Cơn động kinh trở nên trầm trọng hơn: Cũng như các loại thuốc chống động kinh khác, levetiracetam hiếm khi làm trầm trọng hơn về tần suất hoặc mức độ nghiêm trọng của cơn động kinh. Tác dụng này hầu hết được báo cáo trong tháng đầu tiên sau khi bắt đầu dùng levetiracetam hoặc tăng liều và có thể hồi phục khi ngừng thuốc hoặc giảm liều. Bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay trong trường hợp bệnh động kinh trầm trọng hơn. Điện tâm đồ kéo dài khoảng QT: Các trường hợp hiếm gặp về kéo dài khoảng QT trên ECC đã được quan sát thấy trong quá trình giám sát sau khi đưa thuốc ra thị trường. Levetiracetam nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân kéo dài khoảng QTc, ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với các thuốc ảnh hưởng đến khoảng QTc hoặc ở những bệnh nhân có bệnh tim hoặc rối loạn điện giải từ trước. Phụ nữ có thai: Sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường, cho thấy trên 1000 phụ nữ sử dụng trong 03 tháng đầu của thai kỳ. Nhìn chung, dữ liệu này không cho thấy sự gia tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh nặng, mặc dù không loại bỏ nguy cơ gây quái thai. Điều trị với nhiều thuốc chống động kinh liên quan đến nguy cơ gây dị tật bẩm sinh hơn so liệu pháp đơn liều. Do đó, liệu pháp đơn liều có thể được xem xét. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính trên sinh sản. Không nên sử dụng levetiracetam trong thời kì mang thai và ở phụ nữ trong giai đoạn sinh nở cần sử dụng các biện pháp tránh thai khi cần thiết. Thay đổi về sinh lý trong thai kỳ có thể ảnh hưởng đến nồng độ của levetiracetam. Giảm nồng độ levetiracetam đã được quan sát thấy trong thai kỳ. Sự giảm nồng độ levetiracetam rõ rệt hơn ở thời kỳ mang thai thứ 3 (lên đến 60%). Cần theo dõi lâm sàng phụ nữ mang thai sử dụng levetiracetam. Việc ngừng sử dụng thuốc chống động kinh có thể dẫn đến tình trạng bệnh trầm trọng hơn và có thể gây hại cho cả người mẹ và thai nhi. Phụ nữ cho con bú: Levetiracetam được bài tiết vào sữa mẹ. Do đó, không nên sử dụng cho phụ nữ cho con bú. Tuy nhiên, nếu cần thiết, cần cân nhắc tầm quan trọng của việc cho con bú bằng sữa mẹ. Khả năng sinh sản. Không có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản trong các nghiên cứu trên động vật. Không có dữ liệu lâm sàng về nguy cơ tiềm ẩn trên người. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe, vận hành máy móc: Levetiracetam có ảnh hưởng nhẹ hoặc trung bình đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Do sự đáp ứng trên các cá thể là khác nhau, một số bệnh nhân có thể cảm thấy buồn ngủ hoặc các triệu chứng thần kinh khác, đặc biệt là khi bắt đầu điều trị hoặc sau khi tăng liều. Do đó, cần cẩn thận trên các bệnh nhân này khi thực hiện các hoạt động lái xe hay vận hành máy móc. Bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy móc cho tới khi xác định không có ảnh hưởng nào.
Quá liều
Triệu chứng: Buồn ngủ, kích động, hung hăng, suy giảm nhận thức, suy hô hấp và hôn mê được quan sát thấy khi dùng quá liều Dokitam Xử trí quá liều: Sau khi dùng thuốc quá liều, cần rửa dạ dày hoặc gây nôn. Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho levetirace- tam. Nếu được chỉ định, nên loại bỏ lượng thuốc không được hấp thu bằng gây nôn hoặc rửa dạ dày. Cần theo dõi cẩn thận để duy trì đường thở cho bệnh nhân. Chăm sóc bệnh nhân được chỉ định bao gồm theo dõi các dấu hiệu quan trọng và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Bên cạnh đó điều trị triệu chứng và có thể bao gồm thầm phân máu. Hiệu quả thẩm phân có thể đạt 60% với levetiracetam và 74% đối với chất chuyển hóa chính của levetiracetam
Dược động học
Levetiracetam là một hợp chất có độ tan tốt và tính thẩm thấu cao. Các đặc điểm dược động học tuyến tính với sự thay đổi nhẹ trên từng bệnh nhân và trên nhiều bệnh nhân. Không có sự biến đổi về độ thanh thải sau khi dùng thuốc lặp lại. Không có bằng chứng nào về sự biến đổi liên quan tới giới tính, chủng tộc hay nhịp sinh học hàng ngày. Yếu tố dược động học là tương đương giữa người tình nguyện khỏe mạnh và trên bệnh nhân động kinh. Do sự hấp thu hoàn toàn và tuyến tính, nồng độ trong huyết tương được dự đoán từ liều uống của levetiracetam theo đơn vị mg/kg thể trọng. Do đó, không cần theo dõi nồng độ trong huyết tương của levetiracetam. Sự tương quan giữa nồng độ trong nước bọt và huyết tương đã cho thấy, ở người lớn và trẻ em (tỷ lệ nồng độ trong nước bọt/nồng độ trong huyết tương dao động từ 1 đến 1,7 với dạng viên uống và sau 4 giờ với dạng dung dịch uống). Người lớn và thanh thiếu niên: Hấp thu: Levetiracetam được hấp thu nhanh sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối là gần 100%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1,3 giờ. Trạng thái ổn định đạt được sau hai ngày khi sử dụng O2 lần/ngày. Nồng độ đỉnh thường là 31 và 43 ug/ml sau liều đơn 1000 mg và lặp lại liều 1000 mg x 02 lần/ngày. Mức độ hấp thu là độc lập với liều lượng và không bị thay đổi do thức ăn. Phân bố: Không có dữ liệu phân bố ở mô trên người. Cả levetiracetam và chất chuyển hóa chính của levetiracetam đều không liên kết với protein huyết tương (<10%). Thể tích phân bố của levetiracetam xấp xỉ 0,5-0,7 I/kg, gần tương đương với thể tích nước trong cơ thể. Chuyển hóa: Levetiracetam không được chuyển hóa hoàn toàn trên người. Con đường chuyển hóa chủ yếu (24% liều) là thủy phân nhóm acetamid bằng enzym. Sự tạo thành chất chuyển hóa chính, UCB L057, không được hỗ trợ bởi đồng vị cytocrom P450. Sự thủy phân của nhóm acetamid được đo trong một số lượng lớn các mô bao gồm cả tế bào máu. Chất chuyển hóa UCB L057 là chất không có hoạt tính. Hai chất chuyển hóa hàm lượng nhỏ cũng được xác định. Một chất thu được bằng cách hydroxyl hóa vòng pyrrolidon (1,6% liều), một chất thu được bằng cách mở vòng pyrrolidon (0,9% liều). Các thành phần không xác định khác chỉ chiếm 0,6% liều. Không có sự chuyển đổi giữa các đồng phân của levetiracetam và chất chuyển hóa chính đã được chứng minh trong nghiên cứu in vivo. Trong nghiên cứu in vitro, levetiracetam và chất chuyển hóa chính đã được chứng minh là không ức chế các đồng phân cytocrom P450 ở gan (CYP 3A4, 2A6, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1 và 1A2), hoạt động của enzym glucuronyl transferase (UCT1A1 và UCT1A6) và epoxy hydroxylase. Bên cạnh đó, levetiracetam không ảnh hưởng đến sự glucuronid hóa của acid valproic trong ống nghiệm. Trong tế bào gan của người, levetiracetam có ít hoặc không có ảnh hưởng lên CYP1A2, SULTIE1 hoặc UCT1A1. Levetiracetam gây cảm ứng nhẹ CYP2B6 và CYP3A4. Các dữ liệu in vitro và dữ liệu tương tác in vivo với thuốc tránh thai, đường uống digoxin và warfarin chỉ ra rằng không có sự cảm ứng enzym đáng kể. Do đó, sự tương tác của levetiracetam với các chất khác và ngược lại là khó xảy ra. Thải trừ: Thời gian bán thải trong huyết tương ở người lớn là 7 ± 1 giờ và không thay đổi theo liều, đường dùng hoặc cách dùng lặp lại. Độ thanh thải toàn thân trung bình là 0,96 ml/phút/kg. Đường thải trừ chính của thuốc là qua nước tiểu, chiếm gần 95% liều (93% liều được bài tiết trong vòng 48 giờ). Sự bài tiết qua phân chỉ chiếm 0,3% liều. Sự thải trừ của levetiracetam và chất chuyển hóa chính của nó qua thận chiếm 66% và 24% liều trong 48 giờ đầu tiên. Độ thanh thải thận của levetiracetam và UCB LO57 là 0,6 và 4,2 ml/phút/kg cho thấy rằng levetiracetam được bài tiết qua ống thận với sự tái hấp thu tại ống thận ngay sau đó và chất chuyển hóa chính cũng được bài tiết qua ống thận nhờ việc lọc cầu thận. Sự thải trừ levetiracetam có liên quan đến độ thanh thải creatinin. Người cao tuổi: Ở người cao tuổi, thời gian bán thải tăng khoảng 40% (10-11 giờ) do sự suy giảm chức năng thận. Suy thận: Độ thanh thải toàn thân của levetiracetam và chất chuyển hóa chính tương quan với độ thanh thải creatinin. Do đó, nên điều chỉnh liều duy trì hàng ngày của Dokitam dựa trên độ thanh thải creatinin ở bệnh nhân suy thận vừa và nặng. Trong giai đoạn cuối suy thận, thời gian bán thải của thuốc kéo dài khoảng 25 giờ và 3,1 giờ trong suốt quá trình thẩm tích và lọc máu. Tỉ lệ thải trừ levetiracetam là khoảng 5% trong khoảng thời gian chạy thận 4 giờ. Suy gan: Ở những bệnh nhân suy gan nhẹ và trung bình, không có sự thay đổi đáng kể về độ thanh thải của levetiracetam. Ở hầu hết các bệnh nhân suy gan nặng, độ thanh thải của levetiracetam đã giảm hơn 50% do mắc kèm suy thận. Trẻ em: Trẻ em từ 4-72 tuổi: Sau khi uống liều duy nhất (20 mg/kg) cho trẻ em mắc chứng động kinh (6-12 tuổi), thời gian bán thải của levetiracetam là 6,0 giờ. Độ thanh thải được điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể tăng lên 30% cao hơn so với người trưởng thành. Sau khi dùng liều uống lặp lại (20 đến 60 mg/kg/ngày) cho trẻ em bị động kinh (4 đến 12 tuổi), levetiracetam được hấp thu nhanh chóng. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt đỉnh từ 0,5 đến 1,0 giờ sau khi dùng thuốc. Thời gian bán thải khoảng 5 giờ. Độ thanh thải của cơ thể là 1,1 ml/phút/kg. Trẻ sơ sinh và trẻ em (từ 1 tháng đến 4 tuổi): Sau khi dùng đơn liều (20 mg/kg) dung dịch uống 100 mg/ml cho trẻ bị động kinh (1 tháng đến 4 tuổi), levetiracetam đã được hấp thu nhanh và đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 1 giờ sau khi dùng thuốc. Các kết quả dược động học cho thấy thời gian bán thải ngắn hơn (5,3 giờ) so với người lớn (7,2 giờ) và độ thanh thải nhanh hơn rõ ràng (1,5 ml/phút) so với người lớn (0,96 ml/phút/kg). Trong phân tích dược động học được tiến hành trên bệnh nhân từ 1 tháng – 16 tuổi, trọng lượng cơ thể tuyến tính rõ rệt với độ thanh thải và thể tích phân bố. Tuổi cũng có ảnh hưởng đến hai thông số này. Tác động này được phát hiện trên trẻ nhỏ và giảm dần theo độ tuổi và không đáng kể trên trẻ 4 tuổi. Trong cả hai phân tích dược động học, có khoảng 20% trưởng hợp tăng độ thanh thải của levetiracetam khi sử dụng đồng thời với một thuốc chống động kinh gây cảm ứng enzym.